Dãy Trường sơn kéo dài và nằm dọc theo đất nước ta từ miền Quảng Bình đến Bình Thuận. Chính dãy núi này đã tạo ra khí hậu khác biệt giữa một bên là Trường sơn Đông và một bên là Trường sơn Tây. 
Khi gió mùa Tây Nam thổi, gặp dãy Trường Sơn chắn, những đám mây đã trút hết hơi nước xuống ở phía Tây (Phía nước bạn Lào vì thế thời điểm này bên Lào mưa nhiều, mưa dữ dội) và khi gió vượt qua dãy trường Sơn để sang phía Đông (Phía Việt Nam) thì chỉ còn hơi nóng, khô. Lúc này,khí hậu hai bên phân biệt rõ ràng. Bên Tây Trường Sơn (Lào) thì mưa vẫn vũ còn bên Đông Trường Sơn (Việt Nam) thì nóng gay gắt, hơi nóng như thiêu như đốt khô rát cả mặt mày.
Một dãy núi mà hai màu mây
 Bên nắng bên mưa khí trời cũng khác
Chính là câu thơ của nhà thơ Phạm Tiến Duật mô tả khá sinh động sự khác biệt khí hậu của 2 miền dãy Trường Sơn trong bài Trường Sơn Đông - Trường Sơn Tây.
Với Phạm Tiến Duật, quãng đời ở Trường Sơn là quãng đời đẹp nhất của nhà thơ. Chỉ khi ở đây, ông mới thấu hiểu và ghi nhận được vẻ đẹp và sức mạnh của thời đại mình qua hình ảnh rất cụ thể của người chiến sĩ lái xe, cô TNXP, người tư lệnh, người mẹ Pa Cô, Vân Kiều… Trong chiến tranh chống Mỹ, Trường Sơn là tựu trung của mọi tựu trung. Cái gì ở nơi khác có, Trường Sơn cũng có. Cái gì nơi khác không có, Trường Sơn cũng có. Trường Sơn đã cho Phạm Tiến Duật một kho báu. Ngược lại Phạm Tiến Duật đã làm sáng lên Đường Trường Sơn. Mỗi chiến sĩ Trường Sơn, rộng hơn, cả dân tộc thời ấy đều soi thấy mình trong câu thơ của ông.
“Anh lên xe trời đổ cơn mưa/ Cái gạt nước xua đi nỗi nhớ”
Bài thơ Trường Sơn Ðông - Trường Sơn Tây Phạm Tiến Duật viết cuối năm 1969, nhưng hai dòng đầu tiên thì có trước đó gần hai năm.
Câu chuyện có thật đã tạo cho Phạm Tiến Duật cảm hứng để viết bài thơ đi cùng năm tháng này. 

Bây giờ, nhân vật tạo hứng cho thơ đang sống ở Hà Nội, một hoạ sĩ đã thành danh. Hồi ấy, anh ta yêu một cô y tá ở phía Ðông Trường Sơn. Ngồi chung một ca-bin xe đi sang phía Tây, suốt đường anh ta nhắc đến người yêu. Nỗi nhớ của anh ra lây lan sang cả tôi, sang cả người lái xe. Mãi đến khi trời mưa, cái gạt nước phía trước mặt đã giúp tôi viết hai dòng đầu tiên:

Bài viết này được cố Nhà thơ Phạm Tiến Duật viết khi ông còn sống, với những kỷ niệm nhỏ xung quanh bài thơ nổi tiếng “Trường Sơn Đông - Trường Sơn Tây” phananghongtravel.com trân trọng giới thiệu lại cùng bạn đọc.

Bài thơ Trường Sơn Ðông - Trường Sơn Tây tôi sáng tác hồi cuối năm 1969 tại một làng nhỏ bên bờ sông Son của tỉnh Quảng Bình, làng Cổ Giang, một làng nghèo khó mà nền nếp. Cái làng ấy ở không xa nơi cổng đường 20 xe ngang dãy núi Trường Sơn. Thấm thoát đã gần ba mươi năm rồi. Tuổi đất, tuổi người dài ra cũng ối chuyện mà tuổi tác phẩm - của bất kỳ ai - dài ra cũng không ít chuyện.




Từ nhiều năm nay, trong các băng nhạc karaoke có chạy bài hát cùng tên phổ thơ tôi do Nhạc sĩ Hoàng Hiệp làm nhạc. Câu thơ “Cái gạt nước xua đi nỗi nhớ” của bài thơ ấy được băng hình đánh chữ là “Cái gạt nước xua tan nỗi nhớ”. “Xua tan” như thế thì còn gì là tình yêu. Băng hình không chỉ “xua tan” nỗi nhớ mà còn “xua tan” cả thơ ca nữa. Lỗi ấy của người làm băng chứ không phải của nhạc sĩ. Cũng phải nói thêm rằng, những người làm băng ấy vi phạm bản quyền, phớt lờ tác giả. Câu chuyện ấy chỉ làm tôi buồn cười chứ lạ sao không thấy bực mình. Thì văn hoá tới đâu thì làm tới đó, chứ biết làm sao. Mà họ có làm văn hoá đâu, họ làm kinh tế đấy chứ. Một thời ngỡ tưởng gần mà đã hoá ra xa.


Ở bài hát, Trường Sơn Ðông - Trường Sơn Tây là một bản tình ca trong chiến tranh. Một anh, một chị yêu nhau trong xa cách. Còn ở tác phẩm thơ, yếu tố tình ca trộn lẫn với quân ca. Có tám dòng thơ nhạc sĩ không phổ. Ở khổ thứ hai từ trên xuống:

Một dãy núi mà hai màu mây
 Bên nắng bên mưa khí trời cũng khác
 Như anh với em như Nam với Bắc
 Như Ðông với Tây một dải rừng liền”.

Và ở khổ thứ hai từ dưới lên:

“Ðông sang Tây không phải đường thư
Ðường chuyển đạn và đường chuyển gạo
 Ðông Trường Sơn cô gái ba sẵn sàng xanh áo
 Tây Trường Sơn bộ đội áo màu xanh”.

Như vậy, trong thơ không chỉ có hai người mà còn có hai “lực lượng”. Ba chữ như ở đoạn trên nói rằng đây chỉ là ví dụ mà thôi. Âm nhạc viết theo thể hát nói trữ tình đã cộng hưởng rất đẹp với thơ.
Cả bài thơ, như đã nói, làm xong cuối năm 1969, nhưng hai dòng đầu tiên thì có trước đó gần hai năm. Bây giờ, nhân vật tạo hứng cho thơ đang sống ở Hà Nội, một hoạ sĩ đã thành danh. Hồi ấy, anh ta yêu một cô y tá ở phía Ðông Trường Sơn. Ngồi chung một ca-bin xe đi sang phía Tây, suốt đường anh ta nhắc đến người yêu. Nỗi nhớ của anh ra lây lan sang cả tôi, sang cả người lái xe. Mãi đến khi trời mưa, cái gạt nước phía trước mặt đã giúp tôi viết hai dòng đầu tiên:
“Anh lên xe trời đổ cơn mưa
Cái gạt nước xua đi nỗi nhớ”
Bài thơ được viết sau nhiều chặng đường vượt rừng gian nan. Cho đến nỗi, nếu chưa từng ở rừng, vượt rừng thì khó bề thông cảm hết với thơ ấy, bài ấy. Chẳng hạn như câu này: “Nước khe cạn, bướm bay lèn đá” không phải là một câu thơ tả đẹp mà là một quan sát đáng run sợ của lính trinh sát. Nếu thấy cảnh ấy vào lúc chập chiều thì cầm chắc là đói vì không thể có nước nấu cơm. Mười cây số vuông quanh đi không thể có nguồn nước. Hay là câu này: “Muỗi bay rừng già cho dài tay áo”, một bạn Việt kiều và một nhà thơ Pháp đã dịch là “Muỗi bay, mọi người mặc áo măng tô vào” thì thật buồn cười. Họ không đi lính thì trách sao được.

Bây giờ, đọc lại, nghe lại, như một người ngoài cuộc vô cảm tôi vẫn thấy trong lòng bồi hồi. 
Từ nhiều năm nay, thật nhiều bài thơ người ta gọi là thơ tình, nhiều ca khúc người ta gọi là tình ca, nhưng sao nghe chỉ thấy tán tỉnh, có lúc tán tỉnh đến thô lỗ. Thấy quá nhiều sự ích kỷ nhuộm vào các câu chữ. Nhớ lại thời ấy, không phải để tự khen mình và đồng đội của mình mà rưng rưng cảm động. Hình như, không yêu được số đông người thì cũng khó mà yêu lấy một người. Sự ích kỷ với thiên hạ có chứa lực phản.
Không, không chỉ một tôi viết Trường Sơn Ðông - Trường Sơn Tây mà cả con muỗi, con bướm, cái gạt nước, ngọn măng rừng và đồng đội của chúng ta cùng viết./.
Nhà thơ Phạm Tiến Duật

Trường Sơn Ðông - Trường Sơn Tây
Phạm Tiến Duật

Cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn 
Hai đứa ở hai đầu xa thẳm 
Ðường ra trận mùa này đẹp lắm 
Trường Sơn Ðông nhớ Trường Sơn Tây. 

Một dãy núi mà hai màu mây 
Nơi nắng nơi mưa, khí trời cũng khác 
Như anh với em, như Nam với Bắc 
Như Ðông với Tây một dải rừng liền. 

Trường Sơn tây anh đi, thương em 
Bên ấy mưa nhiều, con đường gánh gạo 
Muỗi bay rừng già cho dài tay áo 
Rau hết rồi, em có lấy măng không. 

Em thương anh bên tây mùa đông 
Nước khe cạn bướm bay lèn đá 
Biết lòng anh say miền đất lạ 
Chắc em lo đường chắn bom thù 

Anh lên xe, trời đổ cơn mưa 
Cái gạt nước xua tan nỗi nhớ 
Em xuống núi nắng về rực rỡ 
Cái nhành cây gạt nỗi riêng tư. 

Ðông sang tây không phải đường thư 
Ðường chuyển đạn và đường chuyển gạo 
Ðông Trường Sơn, cô gái "ba sẵn sàng" xanh áo 
Tây Trường Sơn bộ đội áo màu xanh. 

Từ nơi em gửi đến nơi anh 
Những đoàn quân trùng trùng ra trận 
Như tình yêu nối lời vô tận 
Ðông Trường Sơn nối tây Trường Sơn.
Nguồn: Trường Sơn - đường khát vọng, NXB Chính trị quốc gia, 2009

"Trường Sơn Ðông, Trường Sơn Tây"
                     của Phạm Tiến Duật


  Nền thơ chống Mỹ khá ồn ào náo nhiệt, với nhiều gương mặt, nhiều góc nhìn, nhiều giọng điệu, nhưng phần tương đồng, na ná nhau lại còn nhiều hơn, và tất cả góp thành một thần thái khó lẫn với những thời kỳ khác, kể cả với thời kỳ chống Pháp. Và nếu muốn nhận dạng cái thần thái ấy, dễ thường chỉ cần đọc một vài bài như "Trường Sơn Ðông, Trường Sơn Tây" là đủ. Bởi quả thật bài thơ này của Phạm Tiến Duật về rất nhiều phương diện hết sức tiêu biểu cho cả nội dung và hình thức thơ thời chống Mỹ, đương nhiên một thời chống Mỹ hơi nghiêng về phía "miền Bắc", phía "hậu phương của tiến tuyến" một chút. Nó chưa có cái tâm thế và không khí của cuộc đụng độ toé lửa của loại lính chiến trong tầm đạn bắn thẳng và những cuộc giáp lá cà, vì vậy nó còn sạch sẽ và nghiêm ngắn. Tuy nhiên, nói thế thôi chứ không hiểu do nguyên cớ gì mà rồi ngay cả nhiều bài viết ra đời ngay trong khói lửa, trong cả bùn và máu mà chất dữ dội, cái mùi mồ hôi lâu năm và mùi xác chết vốn là đặc thù của lính trận như ta vẫn thấy trong "Lửa" của Hăngri Bacbuýt chẳng hạn, thì trong văn chương ta thời ấy cũng hiếm có lắm. Vì vậy, bài thơ của anh Duật lại càng có quyền tiêu biểu cho thơ (thậm chí cả văn nữa) của cả một thời.

   ấy là cái thời "đường ra trận mùa này đẹp lắm". Chính người viết những dòng này trong những ngày làm lính trơn ở mặt trận Quảng Trị, năm 1972, cũng hát bài thơ được phổ nhạc này luôn, và lúc hát như thế thấy trong lòng thơ thới. Nhưng cũng không ít lần chứng kiến những anh lính trận thực thụ vừa thoát chết từ trong mạn Thành Cổ, Tri Bưu, Thạch Hãn chạy ra thường nằm lăn hai bên vệ đường, mũ tai bèo che nữa mặt, chỉ hé nửa con mắt mà nhìn cái đám lính học trò chúng tôi như vừa chui trong kho quân trang ra đang vừa đi vào vừa nghêu ngao cái đận "cũng mắc võng" để mà ném cho một cái nhìn không ra chế giễu, cũng không ra thương hại, đoán lẩm bẩm câu gì đó cũng không nghe ra được nốt! Ðã đến nước đó thì biết nói năng làm sao. Thôi thì mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh, ta thấy thích thì ta cứ nói là thích, ai thấy sao thì kệ người ta. Và lúc đó tôi thích cái "đường ra trận mùa này đẹp lắm" thực lòng. Còn nhớ, có anh bạn tên là Tề thì phải, có bận đang vác trên vai cuộn dây bọc ba mươi cân lao ầm ầm từ trên núi xuống, cây lá quật cho toé đom đóm mắt, vẫn còn kịp hát "em xuống núi nắng về rực rỡ, cái nhành cây gạt mối riêng tư", chỉ hát vừa kêu lên, chỉ không có cơ hội để vỗ đùi như nhân vật Hoàng trong "Ðôi mắt" của Nam Cao: "Cái lão Phạm Tiến Duật này tài thật..."

    Thì tài quá đi chứ còn gì nữa. Từ lúc có con đường Trường Sơn, tức là từ năm 1959 (như cách gọi phiên hiệu con đường này là 5-59) thì mãi mười năm sau, tức là khi anh Duật làm bài thơ này, cái hiện tượng con đường Trường Sơn vốn có hai phía nhãn tiền như thế mới có cơ hội đi vào thơ, trở thành ý thơ rất đắc địa, vì từ gốc thực của hình tượng mở ra cả một chân trời cho cả ý thơ và hồn thơ bay bổng. Hình ảnh của con đường chiến lược vốn là xương sống của cuộc chiến đấu chống Mỹ trong thực tế đã phân ra làm hai ngả nằm ở phía Ðông và phía Tây dãy Trường Sơn với những khác biệt về địa hình, khí hậu, cảnh trí, thậm chí cả lãnh thổ quốc gia nữa, nhưng có chung một nhiệm vụ, mang một tâm hồn chung của cả dân tộc đang chiến đấu để giải phóng Tổ quốc... Tất cả sự "giống và khác", "xa và gần" ấy như một mâm cỗ thịnh soạn mà cuộc sống bày ra cho người làm thơ, và nhà thơ tài năng này đã không để sót một chất liệu quý nào mà không đưa vào mâm cỗ thơ của mình. Chẳng hạn, đây là sự "khác":

Một dãy núi mà hai màu mây
Nơi nắng nơi mưa, khí trời cũng khác
Như anh với em, như Nam với Bắc

    Sự "khác" ấy đến mức chan chát, với một bên "mưa nhiều" một bên "nước khe cạn", bên "muỗi bay" bên lại "bướm bay" và cao nhất thì như thể một đôi câu đố:

Anh lên xe, trời đổ cơn mưa...
Em xuống núi, nắng về rực rỡ...

    Nhưng sự "khác" và "xa" cực đoan như thế lại hàm chứa trong nó một sự "giống" và "gần" còn có sức thuyết phục hơn. Bởi cái "gần" đầu tiên và cái sinh ra mọi cái "gần"khác là:

Ðông Trường Sơn, cô gái "ba sẵn sàng" xanh áo
Tây Trường Sơn, bộ đội áo màu xanh

    Ðó là cái gần gũi tối thượng của những chiến sĩ chiến đấu chống một kẻ thù chung. Còn mối quan hệ "anh, em" ở đây đóng vai trò như thế nào? Rõ ràng, bài thơ sẽ khác hẳn nếu đây là hai người bạn chiến đấu có cùng giới tính mà nhớ nhau. Vậy mối quan hệ này có thể gọi là tình yêu? Chỉ biết rằng bài thơ này thường xuyên xuất hiện cả trong những tuyển tập thơ chiến đấu lẫn những tập thơ tình. Thì cũng chẳng có cách gọi nào khác hơn khi ta thấy hai người con trai và con gái ở đây quan tâm, lo lắng cho nhau đến "trên mức tình cảm": "Trường Sơn Tây anh đi, thương em...", và em thì "thương anh bên Tây mùa Ðông" và "chắc em lo đường chắn bom THÙ"... Ở ĐÂY KHÔNG CÓ CUỘC GẶP gỡ nào, không một lời nhắn nhe, và cũng không có cả đến một bức thư. Cái gạch nối giữa họ thật kỳ lạ và cũng kỳ vĩ, ấy là "những đoàn quân trùng trùng ra trận"! Mối tình riêng tư ở đây trở nên to lớn dị thường, nó vượt lên trên những số phận cá nhân, lên trên cả cánh rừng đại ngàn và núi non trùng điệp. Ðó là thư tình yêu đặc biệt chỉ sinh hạ một lần cùng những tình cảm cao cả của lý tưởng và đủ sức hoá thân vào trong núi rộng sông dài:

Như tình yêu nối lời vô tận
Ðông Trường Sơn nối Tây Trường Sơn

    Mượn núi sông, trời đất làm cái cớ để nói chuyện con người, lại đem tình riêng hoà vào trong sự nghiệp chung, làm cho cái nhỏ bé trở nên cao rộng, còn cái cao rộng thì không che khuất cái nhỏ bé - một bài thơ ngăn ngắn mà chở được bấy nhiêu tình ý há lại không phải là đại khéo và đại tài hay sao?


(Anh Ngọc - Báo Thế giới Phụ nữ)


Nếu bạn có câu hỏi về chuyền du lịch Lào, Việt Nam hãy để lại thông tin của bạn chúng tôi sẽ trả lời

0 Comment :

Post a Comment